văn học chữ hán

Từ điển Trần Văn Chánh. ① Học, học tập: 學 文 化 Học văn hoá; 幼 不 學 , 老 何 爲 ?. Nhỏ mà không học thì đến lúc già còn làm gì được? (Tam tự kinh); ② Noi theo, phỏng theo, bắt chước: 學 雞 叫 Bắt chước gà gáy; ③ Học thức: 博 學 多 能 Học rộng tài cao; ④ Các học phần tự chọn: + Văn bản chữ Hán trong Nhà trường Phổ thông, 03 tín chỉ. + Văn bản chữ Nôm trong Nhà trường Phổ thông, 02 tín chỉ. - Đối với Cao đẳng Sư phạm Ngữ văn có học phần: Ngữ văn Hán Nôm, số lượng 04 tín chỉ. Ngày 17/10/2022, đồng chí Lê Hồng Sơn - Phó Chủ tịch thường trực UBND Thành phố Hà Nội đã ký và ban hành Văn bản số 3447/UBND-NC về việc tổng rà soát, kiểm tra, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về PCCC&CNCH trên địa bàn thành phố. App Vay Tiền. Bạn đang quan tâm đến Các Tác Phẩm Văn Học Chữ Hán phải không? Nào hãy cùng đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy! Tác phẩm văn học việt nam viết bằng chữ hán Có thể bạn quan tâm Những cuốn sách kinh điển hay nhất mọi thời đại nên đọc ZaloPay Văn Học Dân Gian Các Tác Phẩm Truyện Thơ Dân Gian Việt Nam Mới Nhất 2022 TIỂU SỬ LUDWIG VAN BEETHOVEN 1770-1827 – HOANG VAN ART Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân hay nhất – Phong cách Hồ Chí Minh – Tác giả tác phẩm – Ngữ văn lớp 9 Ngoài văn học dân gian truyền khẩu, còn có một dòng văn học viết, đầu tiên là chữ Hán, sau đó là chữ Nôm, sau đó là chữ quốc ngữ như ngày nay. dòng văn học này đã trải qua nhiều thời kỳ. các văn bản sớm nhất được tìm thấy có niên đại từ thế kỷ thứ 10, được chia thành hai thời kỳ từ thế kỷ X đến thế kỷ X từ đầu thế kỷ 20 đến nay. bạn đang xem tác phẩm văn học bằng chữ Hán từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 12 Xem thêm Nghệ thuật ngôn từ trong tác phẩm số đỏ – KimContent Vào thời kỳ này, văn học viết được viết bằng hai loại chữ viết chữ Hán và chữ viết. mặc dù sau một nghìn năm Bắc thuộc, người Việt không bị đồng hóa mà dần dần hình thành nên bản sắc dân tộc riêng biệt. văn học du mục xuất hiện từ rất sớm, nhưng từ thế kỷ 16 văn học du mục mới thịnh hành và đến thế kỷ 16 văn học du mục chiếm một vị trí rất quan trọng. sự phát triển của ý thức dân tộc đã tạo điều kiện cho văn học du mục phát triển. Xem Thêm Khái quát các tác giả và tác phẩm trong chương trình thi THPT Quốc Gia môn văn văn học và chữ viết hình thành và phát triển trong nhiều thế kỷ, văn học chữ Hán đã giữ vị trí thống trị trừ một vài trường hợp, chẳng hạn như triều đình hồ và tỉnh lỵ, nơi quan trọng ngôn ngữ du mục, mặc dù họ sử dụng chữ Hán, các tác phẩm văn học này vẫn mang đậm bản sắc và hồn quê Việt Nam như Bài thơ nam quốc sơn hà lý thương kiều, hịch tướng sĩ trấn hưng đạo, thơ ca ngợi chiến công của nghĩa quân và quân dân ta. ông già, trần quang khai, sư phạm mạnh mẽ, cáo binh ngoại nguyễn trai, Sau đây là những bộ sử được viết với tinh thần dân tộc đậm nét Đại Việt sử ký toàn thư của bệnh viện liên khoa, hoàng lê nhất thống chí của ngoại gia văn phải, w. Vào thế kỷ 15, văn học chữ Hán vẫn còn thịnh hành. tuy nhiên, văn học du mục vẫn liên tục phát triển. Nguyễn Trãi là người bảo vệ chữ Quốc ngữ và vận dụng chữ viết vào sáng tạo văn học. Tuyển tập thơ văn thời kỳ này là một trong những tuyển tập thơ lục bát cổ nhất còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Xem thêm Tức cảnh Pác Bó – Tác giả tác phẩm – Ngữ văn lớp 8 Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 10, văn học du mục phát triển mạnh mẽ và thống trị văn học. các nhà thơ lớn đã khai thác triệt để ngôn ngữ của dân tộc, nhiều tác phẩm tiêu biểu đã ra đời thơ vịnh xuân hương, nguyễn du truyện kiều, đoạn thi tập và ngâm khúc chinh phục, ngâm thơ Nguyễn Cung oán ngâm khúc. w, từ đầu thế kỷ 20 đến nay. Cuối thế kỷ X, đầu thế kỷ 20, các tác phẩm văn học chữ Quốc ngữ dần xuất hiện. Văn học Việt Nam ngày nay không chỉ tiếp thu và chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc mà còn tiếp thu văn học phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp làm cho văn học Việt Nam ngày càng phong phú, đa dạng hơn về thể loại. Văn học Việt Nam đã dần dần thoát khỏi phong cách cổ điển bằng những tác phẩm kinh điển có sức nặng hơn, uyển chuyển hơn, chính xác hơn, gần gũi hơn với ngôn ngữ đời thường. năm 1925, những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam được xuất bản “tam tam” của hoàng ngọc thất, “canon quả” của nguyễn ngữ lục. trào lưu thơ mới được coi là một cuộc “cách mạng” về thơ, những quy tắc gò bó, những lối diễn đạt thông thường, những công thức bị phá vỡ, cảm xúc được thể hiện tự nhiên hơn, cởi mở hơn, lãng mạn hơn. Nhiều nhà thơ tài năng đã xuất hiện trong phong trào thơ mới thơ trong lu, thế lu, vũ đình, xuân điều, huy cận, tân da, nguyệt. Xem Thêm Top 15 cuốn tiểu thuyết hay kinh điển mọi thời đại, nên đọc ZaloPay Về sự trỗi dậy của văn học lãng mạn, có một nhóm tự lực văn đoàn được thành lập vào năm 1932, bao gồm nhất linh, khai hung, hoàng đạo, thach lam, và một số tác giả trẻ, w. Dù dòng văn học này đã có nhiều tiến bộ trong sáng tác nhưng không tránh khỏi những hạn chế về mặt tư tưởng. Xem thêm Giới thiệu về tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí 2023 Bên cạnh trào lưu văn học lãng mạn, cần phải kể đến văn học hiện thực phê phán. các tác phẩm của trào lưu văn học này rất chân thực và thấm nhuần tinh thần khoan dung. phong trào này đã cho ra đời những tác phẩm thực sự xuất sắc cả về nội dung và hình thức như Bước chân cuối cùng của nguyễn công tử, Đèn đường tắt, Vỡ đập, Vũ trong phung phí, Bi bo. by nguyen hong, chi pheo by nam cao, w. Cùng với hai phong trào trước, còn có một phong trào văn học cách mạng không lưu hành hợp pháp mặc dù đôi khi nó lưu hành một cách hợp pháp. trào lưu văn học này bao gồm các bài thơ của các chiến sĩ cách mạng trong tù và các tác phẩm đăng trên báo nước ngoài. Các tác giả tiêu biểu của phong trào này là Hồ Chí Minh, Sóng Hồng, Tố Hữu, Xuân Thủy, Cách mạng tháng Tám thắng lợi, văn học hiện đại phát triển mạnh mẽ. những tác phẩm ra đời trong thời kỳ này như những cột mốc đánh dấu từng giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc. Tác phẩm Con trâu của Nguyễn Văn Phong, Vùng mỏ đất võ, Cuộc đụng độ của Nguyễn Đình Thi, Văn chính luận của Nguyễn Tuân, W. nó là kết quả của văn học trong những năm kháng chiến chống Pháp. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm, nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng đã ra đời phản ánh cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng của đồng bào và chiến sĩ cả nước, như Ông đồ. Trong gia đình có bảy người mẹ là người hầu của Phan Tứ, ở đất Quảng, mẹ là người nắm giữ binh khí của Nguyễn Thị. và các tác phẩm thơ Quê hương giang nam, Dáng đứng Việt Nam, Tiếng chim hót thu bon, Gió thổi cát trắng xuân quynh, w. Ngày nay, các nhà văn, nhà thơ đang cố gắng đưa văn học Việt Nam lên một giai đoạn mới, góp phần xây dựng một đất nước Việt Nam hòa bình và ổn định. Nguồn Danh mục Văn Học Vậy là đến đây bài viết về Các Tác Phẩm Văn Học Chữ Hán đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống! Ngoài văn hoá dân gian truyền miệng còn có dòng văn học chữ viết, lúc đầu là chữ Hán, sau chữ Nôm rồi đến chữ Quốc ngữ như ngày nay. Dòng văn học này trải qua nhiều thời kì. Những văn bản sớm nhất hiện tìm thấy có từ thế kỉ thứ X, tạm chia làm hai giai đoạn Từ thế kỉ thứ X đến thế kỉ XIX Từ đầu thế kỉ XX đến này. Bạn đang xem Các tác phẩm văn học chữ hán Từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX Trong giai đoạn này, văn học thành văn được viết bằng hai thứ chữ chữ Hán và chữ Nôm. Mặc dù trải qua một nghìn năm Bắc thuộc, người Việt Nam không bị đồng hoá mà dần dần hình thành bản sắc dân tộc riêng biệt. Chữ Nôm xuất hiện từ rất sớm nhưng từ thế kỉ XVI trở đi văn học chữ Nôm mới thịnh hành và đến thế kỉ XVIII thì văn học chữ Nôm chiếm một vị trí rất lớn. Sự phát triển về ý thức dân tộc đã tạo điều kiện cho văn học chữ Nôm ngày càng phát triển. Văn học chữ viết hình thành và phát triển Trong nhiều thế kỉ, văn học chữ Hán chiếm vị trí chủ yếu trừ một vài trường hợp như triều Hồ Quý Ly và Quang Trung coi trọng chữ Nôm, tuy sử dụng chữ Hán nhưng các tác phẩm văn học ấy vẫn thấm đượm tính cách và tâm hồn Việt Nam như bài thơ Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, những bài thơ ca ngợi chiến thắng của quân dân nhà Trần của Phạm Ngũ. Lão, Trần Quang Khải, Phạm Sư Mạnh, Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi, vv. Tiếp đến là những bộ sử dược viết với một ý thức dân tộc mạnh mẽ Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái, w. Thế kỉ XV, văn học chữ Hán vẫn chiếm ưu thế. Tuy vậy văn học chữ Nôm vẫn không ngừng phát triển. Nguyễn Trãi là người nêu cao tiếng Việt và vận dụng chữ Nôm vào sáng tác văn học. Tập thơ Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi trong thời kì này là một trong những tập thơ Nôm xưa nhất có giá trị đến ngày nay. Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX, văn học chữ Nôm phát triển rực rỡ chiếm ưu thế hoàn toàn trên văn đàn. Những nhà thơ lớn đã khai thác triệt để ngôn ngữ của dân tộc, nhiều tác phẩm tiêu biểu ra đời Thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, w, Từ đầu thế kỉ XX đến nay. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, các tác phẩm văn học bằng chữ Quổe ngữ dần dần xuất hiện. Nền văn học Việt Nam hiện nay không chỉ tiếp thu và chịu ảnh hưởng của nền văn học Trung Quốc mà còn tiếp thu cả nền văn học phương Tây đặc biệt là văn học Pháp, đã đưa nền văn học Việt Nam phong phú hơn và đa dạng hơn về thể loại. Văn học Việt Nam dần dần đã tách khỏi phong cách cổ điển với những điển tích nặng nề, linh hoạt hơn, chính xác hơn và gần với ngôn ngữ hàng ngày hơn. Năm 1925, những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam ra đời Tố Tàm của Hoàng Ngọc Phách, Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật. Phong trào thơ mới được coi là “một cuộc cách mạng” trong thơ ca, những quy tắc gò bó, lối diễn đạt ước lệ, công thức bị phá bỏ, cảm xúc được diễn tả tự nhiên, cởi mở hơn, lãng mạn hơn. Trong phong trào thơ mới xuất hiện nhiều nhà thơ tài năng Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Xuân Diệu, Huy Cận, Tản Đà, w. Về Văn học lãng mạn nổi lên có nhóm Tự lực văn đoàn được thành lập năm 1932 gồm Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam và một số nhà văn trẻ, w. Dòng văn học này tuy có nhiều tiến bộ trong sáng tác nhưng không tránh khỏi những hạn chế về mặt tư tưởng. Bên cạnh trào lưu văn học lãng mạn phải kể đến dòng Văn học hiện thực phê phán. Các sáng tác của trào lưu văn học này có tính chân thực cao và thăm đượm tinh thần nhẫn dạo. Trào lưu này đã cho ra dời những tác phẩrn thật sự xuất sắc cả về nội dung và hình thức như Bước dường cùng của Nguyễn Công Hoan, Tắt đèn của Ngô Tẩt Tố, Vỡ đê, Giông tố của Vũ Trọng Phụng, Bi vò của Nguyễn Hồng, Chí Phèo của Nam Cao, w. Cùng với hai trào lưu trên còn có trào lưu Văn học cách mạng nhưng không được lưu hành hợp pháp tuy có lúc được lưu hành hợp pháp. Trào lưu văn học này gồm những thơ văn của các chiến sĩ cách mạng ở trong tù và những tác phẩm được xuất bản trên báo chí nước ngoài. Những tác giả tiêu biểu cho trào lưu này là Hồ Chí Minh, Sóng Hồng, Tố Hữu, Xuân Thuỷ, vv. Cuộc cách mạng tháng Tám thành công, nền Văn học hiện đại được phát triển mạnh mẽ. Những tác phẩm ra đời trong thời kì này như những mốc son đánh dấu từng giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc. Các tác phẩm Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, Vùng mỏ của Võ Huy Tầm, Xung Kích của Nguyễn Đình Thi, Tuỳ bút của Nguyễn Tuân, w. là thành quả của nền văn học trong những năm kháng chiến chống Pháp. Cuộc kháng chiến chống Mĩ kéo dài 21 năm, nhiều tác phấm văn học nổi tiếng đã ra đời, phản ánh cuộc đấu tranh vô cùng anh dũng của đồng bào và chiến sĩ cả nước như Hòn đất của Anh Đức, Gia đình má Bẩy, Mẫn và tôi của Phan Tứ, Trên đất Quảng, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi. Và các tác phẩm thơ Quê hương của Giang Nam, Dáng dứng Việt Nam của Lê Anh Xuân, Bài ca Chim Chơ-rao của Thu Bồn, Gió Lào cát trắng của Xuân Quỳnh, w. Hiện nay các nhà văn, nhà thơ đang có gắng đưa văn học Việt Nam sang một giai đoạn mới, góp phần xây dựng một nước Việt Nam đi lên trong hoà bình và ổn định. Tôi là Nguyễn Văn Sỹ có 15 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực thiết kế, thi công đồ nội thất; với niềm đam mê và yêu nghề tôi đã tạo ra những thiết kếtuyệt vời trong phòng khách, phòng bếp, phòng ngủ, sân vườn… Ngoài ra với khả năng nghiên cứu, tìm tòi học hỏi các kiến thức đời sống xã hội và sự kiện, tôi đã đưa ra những kiến thức bổ ích tại website Hy vọng những kiến thức mà tôi chia sẻ này sẽ giúp ích cho bạn! VHSG- Rất nhiều bạn trẻ đang nhầm tưởng việc học chữ Hán là học tiếng Trung Quốc, nên cứ nghe đến các lớp chữ Hán mở ra là dè bỉu. Song nếu ai đó bảo họ phân tích sự khác biệt giữa những chữ viết trên câu đối chùa chiền, với văn bản hiện tại ở Bắc Kinh, thì họ không làm được. Tại sao? 1. Một cách đơn giản, mọi người cần hiểu, ngôn ngữ nào cũng có lịch sử phát triển, và tiếng Trung Quốc cũng thế. Người Trung Quốc nhiều đời trước thống nhất dùng văn tự chữ Hán phồn thể để viết và dùng ngữ pháp chữ Hán để hiểu. Lối hành văn ấy thường gọi là văn chương bát cổ, sử dụng ở các triều đại phong kiến. Đến nay, Chính phủ Trung Quốc thống nhất dùng chữ viết tiết giản các nét giản thể và ngữ pháp vùng Bắc Kinh cho đất nước này, từ đó trở thành tiếng phổ thông Trung Hoa Trung văn hay còn gọi là tiếng Quan thoại, tiếng Bắc Kinh. Áng văn Nôm Truyện Kiều bản Chiêm Vân Thị dưới tựa “Thúy Kiều Truyện tường chú”. Với người Việt Nam, chữ Hán được du nhập cùng bước chân xâm lược và chế độ đô hộ của Trung Quốc trước đây. Giới nghiên cứu cho rằng chữ Hán được vận dụng chính từ thời Hán, với âm đọc của thời đó, lưu giữ cho đến nay. Chữ Hán, được người Việt dùng, nhưng với âm đọc Hán – Việt, tức là phát âm theo tiếng của người Việt Nam. Trải qua nhiều triều đại, cùng với lối văn chương bát cổ được sử dụng, từ vựng chữ Hán đã dần trở thành “vốn từ” đa số trong ngôn ngữ Việt Nam. Những chữ Hán này, tức các từ Hán – Việt, đọc lên hoàn toàn bằng âm Việt, người Trung Quốc nghe không hiểu. Nghĩa dùng, ngữ pháp chữ Hán – Việt cũng tuân thủ theo văn chương cũ ở các triều đại phong kiến, nên người Trung Quốc hiện đại cũng không thể hiểu được. Thậm chí qua thời gian, chữ Hán còn được người Việt biến cải, sử dụng với nhiều nghĩa khác, từ đó tạo ra nhiều chữ Hán “thuần Việt”, không còn chữ Hán nguyên thủy. Sự khác biệt này, nếu so sánh với tiếng phổ thông Trung Quốc hiện nay, sẽ rất rõ nét. Ví dụ, người Trung Quốc dùng chữ “chúng cư” 眾 居 theo nghĩa nơi ở tập trung nhiều người, nhưng người Việt đổi âm là “chung cư”. Người Trung Quốc dùng chữ “khốn nạn” 困 難 để chỉ sự khó khăn, còn người Việt lại trỏ vào một đặc tính hành xử của con người. Người Trung Quốc dùng chữ sinh sản 生 產 với nghĩa “sản xuất”, còn người Việt lại dùng chữ sinh sản để chỉ vào việc sinh nở của phụ nữ. Đại gia 大 家, với tiếng Trung Quốc hiện đại, nghĩa là mọi người, nhưng người Việt lại dùng nghĩa “người giàu có tiền bạc”. Hơn nữa, trong lịch sử ngôn ngữ, người Việt còn sử dụng chữ Hán để ký âm đọc tiếng Việt, từ đó tạo nên những từ tiếng Việt thuần túy nhưng viết bằng chữ Hán, gọi là chữ Nôm. Lối chữ này, hoàn toàn không phải là chữ Hán của người Trung Quốc nữa, và đã từng được người Việt sử dụng như là một thứ chữ viết riêng cho tiếng Việt. Do đó, chữ Hán – Việt chính là nền tảng quan trọng để ký âm chữ Nôm cho người Việt, và trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ Việt Nam, chữ Hán là thành phần không thể thiếu được khi người Việt muốn nắm rõ, giảng nghĩa các từ dùng của mình. Nền văn hóa, văn học Việt Nam, ngôn ngữ cha ông chúng ta vì thế không tách rời với chữ Hán và chữ Nôm, cần phải được bảo tồn, nắm bắt đúng nguyên nghĩa giá trị và tinh thần trong đó. Bốn trang đầu của sách “Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca” dùng chữ Nôm để học chữ Nho. 2. Học chữ Hán, với người Việt hiện nay, chính là một thách thức không đơn giản, khi cả dân tộc đã hơn 100 năm chuyển đổi qua hệ ký âm Latinh tiếng Việt, sử dụng chữ Quốc ngữ trong mọi hoạt động văn hóa và giao tiếp. Chữ viết hiện nay của người Việt hoàn toàn không còn dấu vết gì của chữ Hán, chữ Nôm. Có điều, thực chất nghĩa ẩn chứa bên trong từ tiếng Việt, lại là nghĩa của từ Hán – Việt. Do đó, để hiểu đúng hiểu đủ bản sắc phong phú, độc đáo của ngôn ngữ tiếng Việt, chúng ta không thể bỏ qua “kênh dịch nghĩa” là từ Hán – Việt. Thậm chí, khi bỏ nghĩa Hán – Việt, nhiều từ tiếng Việt sẽ bị đứt gãy nghĩa, trở nên tối nghĩa và sai lệch. Khối lượng từ tiếng Việt của chúng ta sẽ giảm đi rất nhiều và méo mó một cách thảm hại. Ví dụ, với câu nói “đêm qua, đại ca Hùng đã dùng ca sắt đánh vào đầu ca sĩ Hồng”, rất nhiều người hiện nay không thể phân biệt đúng và đầy đủ nghĩa của 3 từ “ca” được sử dụng. Nếu không nắm vững được các từ Hán – Việt với nghĩa dùng ở đây, cùng các từ tiếng Việt, chữ Nôm tương ứng, chắc chắn người Việt Nam không thể giảng rõ được từ dùng của mình. Đây là lý do để gần đây, một trào lưu “học chữ Hán” khá sôi nổi đa dạng được khuấy động ở các đô thị lớn như Hà Nội, Chí Minh, được nhiều bạn trẻ quan tâm theo học. Tuy nhiên, do không hiểu được bản chất sự việc, nhiều bạn trẻ đang cổ súy bài xích hoạt động đó, cho rằng các bạn học chữ Hán là học tiếng Trung Quốc, dẫn đến những ngộ nhận sai lầm khi ứng xử. Thậm chí ngay ở một số nhà sách, nhà xuất bản, một số từ điển, tự điển chữ Hán cũng bị hiểu nhầm là từ điển, tự điển tiếng Trung, và ngược lại. Có rất nhiều từ điển tiếng Trung Quốc hiện đại, khi được dịch qua tiếng Việt, đã ghi thành từ điển Hán – Việt, rất là sai lệch. Học và hiểu ngôn ngữ là cả một vấn đề lớn, không đơn giản, nhất là khi các ngôn ngữ ấy đã có một lịch sử giao thoa cả ngàn năm. Cho nên, nhận chân vấn đề, hiểu đúng bản thể sự việc là rất quan trọng. Học chữ Hán, vì thế rất mong các bạn trẻ và cộng đồng đừng nhầm lẫn cho là học tiếng phổ thông Trung Quốc. THỤY BẤT NHI BÁO QUẢNG NAM Xem thêm Thơ 1-2-3 Huỳnh Thanh Liêm Biết để tin và không biết để… tin! Truyện ngắn Trần Thế Tuyển Dòng sông cuộn chảy Thơ 1-2-3 Hà Phi Phượng Có những lặng thầm tàng ẩn lắng sâu Truyện ngắn Nguyễn Hương Duyên Trong khu vườn lá rụng Thơ 123 Vương Thanh Lan Trang giáo án dày thêm những khoang tàu sương gió

văn học chữ hán